Tìm hiểu về chỉ số Amoniac – NH3 và Strontium trong nước biển


Tìm hiểu về chỉ số Amoniac – NH3 và Strontium trong nước biển

Nhiều người chơi đang bối rối bởi sự khác biệt giữa amoniac và các hình thức của nó được cho là ít độc hại hơn: amoni. Lý do duy nhất mà amoni được cho là ít độc hại hơn amoniac là một phân tử tích điện, nó đi qua mang của các loài cá và đi vào máu của chúng khó khăn hơn nhiều so với ammoniac

Trong quá trình sinh hóa, phát triển, các động vật và thực vật sẽ bài tiết ra các chất độc gây ô nhiễm nguồn nước nếu để lâu dài, trong số các hợp chất ấy có Amoniac (NH3). Trong quá trình lắp đặt ban đầu của một hồ san hô, hoặc khi sống đá hoặc cát được thêm vào, một số lượng lớn ammoniac sẽ làm cho hệ thống lọc sinh học của hồ quá tải và không thể phân hủy trong một thời gian ngắn. Trong những trường hợp này, cá có nguy cơ rất lớn. Amoniac ở mức thấp là 0.2 ppm cũng có thể gây nguy hiểm cho cá. Trong trường hợp như vậy, cá và động vật không xương sống nên được di chuyển ra khỏi hồ để nước sạch hơn, hoặc bể cá phải được xử lý với một sản phẩm khử ammoniac như Amquel.

Như đã đề cập, Amoniac là một hợp chất độc hại đối với số đông các loại động thực vật trong bể duy hỉ có số ít loài sẵn sàng hấp thụ NH3 như loài macroalgae

Vi khuẩn – Bacteria cũng có thể hấp thụ NH3 chuyển đổi nó thành nitrit , nitrat, và khí nitơ (“chu kỳ nitơ”). Trong môi trường bể ổn định Amoniac thường được các loài tảo có khả năng hấp thụ chúng hấp thụ để tạo ra chính thức ăn cho chúng đồng thời đào thải các chất hóa sinh khác có cứa nito . Sau chu trình chuyển hóa phức tạp đó, Amoniac dần trở thành các chất hóa sinh khác ít độc hại hơn, do đó trong điều kiện nuôi trồng ổn định, trong bề các mặc một lượng các loài có thể hấp thu ammoniac thì amoniac sẽ sớm được xử lý phân hủy, không đáng lo ngại

Strontium

Stronti(tiếng Anh: Strontium) là một nguyên tố kim loại kiềm thổ có ký hiệu là Sr và số nguyên tử Là một kim loại kiềm thổ, stronti là một kim loại có màu vàng hoặc trắng bạc và có độ hoạt động hóa học cao. Kim loại chuyển sang màu vàng khi tiếp xúc với không khí. Nó có mặt trong tự nhiên trong các khoáng Celestin và strontianit. Đồng vị 90Sr thể hiện tính phóng xạ và có chu kỳ bán rã 28,90 năm. Cả stronti và strontianit đều được đặt theo tên một ngôi làng Strontian ở Scotland gần mỏ khoáng mà nó được khai thác đầu tiên.Tổng độ cứng của nước là hàm lượng các cation hóa trị hai được biểu thị tương đương với Calcium carbonate. Các cation hóa trị hai này chính là calcium, magie và strontium.

Trong một số thử nghiệm gần đây, tôi thấy rằng trong hồ san hô của mình, không có bất kỳ bổ sung strontium nào, nhưng strontium vẫn duy trì trên mức tự nhiên (15 ppm do strontium cao trong hỗn hợp nước biển nhân tạo.Do đó, bổ sung thêm mà không biết mức độ strontium hiện tại của hồ là không nên. Bằng chứng khoa học cho thấy một số sinh vật cần strontium, mặc dù không phải là sinh vật mà hầu hết các san hô cần để duy trì và phát triển, tuy nhiên, rõ ràng nó sẽ độc hại ở nồng độ cao. Trong một báo cáo khoa học, mức strontium 38 ppm đủ để có thể giết một loài cua (Carcinus maenas). Không có bằng chứng nào cho thấy rằng mức strontium 5-15 ppm là có hại cho bất kỳ sinh vật biển, mặc dù nó được biết không phải là mức độ strontium tối ưu.

Làm thế nào chúng ta có thể duy trì mức độ strontium như trong tự nhiên? Tất nhiên là bổ sung, điều này cần dụng cụ. Nếu kết quả ở trong khoảng 5-15 ppm, không cần phải làm bất cứ điều gì. Nếu mức độ cao hơn 15 ppm, phương pháp đơn giản nhất chỉ đơn giản là thay nước với loại muối phù hợp. Nếu nồng độ strontium dưới 5 ppm, bổ sung thêm strontium theo nồng độ phù hợp.

Nên duy trì nồng độ strontium trong bể san hô trong phạm vi 5-15 ppm. Mức độc ở khoảng chênh lệch so với nước biển tự nhiên là 8 ppm. Tác giả khuyến cáo không nên bổ sung strontium, trừ khi nồng độ strontium kiểm tra thấy ở mức dưới 5 ppm. Đo lường và bổ sung strontium không phải là một vấn đề khó khăn đối với người chơi.

Nhìn chung, thay nước cũng xem là những cách phù hợp để dung hòa một lượng strontium phù hợp để luôn giữ chất strontium phù hợp trong ao nuôi.

Duong Thuy